Các lý do phải đóng cửa mỏ sắt Thạch Khê

LTS: Tạm dừng từ năm 2011 sau hai năm triển khai vì nhiều lý do, đến nay số phận của dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh) vẫn chưa biết thế nào. Sau các ý kiến đề xuất chấm dứt của Bộ kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Hà Tĩnh và tiếp tục triển khai của Bộ Công Thương, chủ đầu tư - Công ty cổ phần Sắt Thạch Khê - thì mới đây, Hội Khoa học và Công nghệ mỏ Việt Nam có văn bản đề xuất tiếp tục triển khai thực hiện dự án. Bài viết dưới đây của TS. Nguyễn Thành Sơn(*) góp thêm một góc nhìn về vấn đề này.

Mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh. Ảnh: TTXVN

Đã có nhiều báo cáo khoa học và bài báo phân tích, đánh giá và kiến nghị đóng cửa dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê. Dưới đây, tôi chỉ tổng hợp để đưa ra một số lý do nên đóng cửa dự án.

Từ năm 2007, việc triển khai dự án đã được Bộ Công Thương và chủ đầu tư thực hiện theo tinh thần “làm bằng bất kỳ giá nào”, “vừa triển khai vừa làm thủ tục”: vừa khai thác vừa nghiên cứu công nghệ; chưa chứng minh được hiệu quả kinh tế đã góp vốn; chưa có thị trường đã bắt đầu khai thác; chưa có đấu thầu đã bốc đất...

1. Dự án sẽ làm triệt tiêu các quỹ đất

Diện tích khai thác chiếm đất lớn: Khu vực khai thác mỏ chỉ cách thành phố Hà Tĩnh 8 ki lô mét về phía biển (“mặt tiền”), có diện tích chiếm đất tới hơn 4.800 héc ta của sáu xã (Thạch Khê, Thạch Đỉnh, Thạch Hải, Thạch Bàn, Thạch Trị và Thạch Lạc) thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Mỏ được khai thác bằng công nghệ lộ thiên có bãi thải đất đá rất lớn, phân bố trên diện rộng, tiềm ẩn nhiều rủi ro và các tác động tiêu cực đến môi trường đất.

Không có khả năng hoàn thổ sau khi khai thác: Nguyên nhân là vì chiều sâu khai thác rất lớn và vì đặc tính của đất đá đổ thải thuộc loại cát chảy, dễ bị trôi lấp. Sau mỗi trận mưa, những dòng chảy mặt lại cuốn trôi cát, sét xuống moong mỏ, tạo nên những bãi bồi tích mới ở chân bờ mỏ, hoặc cuốn trôi ra biển. Mặt đất bị biến dạng sâu và tạo ra mất cân bằng tự nhiên. Hiện nay, do khai thác và tháo khô moong mỏ, khối nước ngọt cạn kiệt, đất đai bị nhiễm mặn, hệ sinh thái thực vật tự nhiên và cây trồng nông nghiệp tàn lụi dần. Nguy cơ tất yếu là vùng đất cồn cát ven biển Thạch Hà sẽ trở thành một vùng hoang mạc.

2. Dự án sẽ làm triệt tiêu nguồn nước ngọt

Lượng nước mặt và nước ngầm chảy vào mỏ sắt Thạch Khê trung bình hơn 3,17 triệu mét khối/ngày đêm. Lượng nước ngọt này đang được bơm từ khai trường đổ thải ra biển. Với lưu lượng rất lớn như vậy, việc khai thác mỏ sẽ làm triệt tiêu các nguồn nước ngọt cấp cho sản xuất công-nông nghiệp và dân sinh trong toàn khu vực.

Ngoài ra, mỏ sắt Thạch Khê phía Đông giáp biển, phía Tây giáp sông nước lợ Hạ Vàng. Tầng chứa nước ngầm ngọt có quan hệ thủy lực với nước mặn bao quanh. Người dân sinh sống và canh tác nông nghiệp nhờ vào nguồn nước ngọt từ cồn cát. Từ khi mỏ Thạch Khê bắt đầu khai thác, liên tục đào sâu và bơm hút nước mỏ đổ ra biển, mực nước ngầm tại xã Thạch Đỉnh hạ thấp rất nhanh. Nếu tiếp tục khai thác mỏ, nước mặn từ biển và từ sông Hạ Vàng sẽ xâm nhập vào và dần thay thế nước ngọt trong đất cồn cát, làm cho vùng đất ven biển Thạch Hà bị nhiễm mặn, cây lúa và rau màu không thể phát triển.

Diện tích đất bị chiếm dụng, bị xâm hại cùng với nguồn nước ngọt bị triệt tiêu là những tổn hại không thể đảo ngược và không gì bù đắp được trong điều kiện kinh tế - xã hội của Hà Tĩnh.

3. Dự án sẽ bần cùng hóa người dân trong vùng

Từ tháng 10-2008, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã phê duyệt vốn tái định cư 3.478 tỉ đồng để di dời 3.950 hộ dân, 16.000 người dân. Mỗi hộ dân được đền bù bình quân 880 triệu đồng và được cấp 300 mét vuông đất tái định cư. Thực tế cho thấy, cuộc sống của 51 hộ dân với 357 nhân khẩu xã Thạch Đỉnh (được đền bù đầu tiên) tại nơi ở mới có vẻ khá hơn về chỗ ở (an cư), nhưng không có đất canh tác (không lạc nghiệp), trong khi người dân không thể chuyển sang ngành nghề khác.

Nếu tiếp tục triển khai dự án, việc phải tiếp tục di dời, tái định cư, sự bần cùng hóa sẽ diễn ra trên diện rộng với quy mô gấp 45 lần xã Thạch Đỉnh.

4. Nguy cơ ngập mỏ do hang động caster là không tránh khỏi

Vùng Hà Tĩnh - Quảng Bình có nhiều hang động hình thành trong lớp đá vôi. Kết quả khảo sát dự báo hang động caster bằng phương pháp địa vật lý trên diện tích hai ki lô mét vuông khu vực giữa moong mỏ và dọc theo bãi biển Thạch Hải cho thấy ở địa tầng đá hoa C2-P¬1 có rủi ro về hang động. Trong quá trình khai thác, các hang động caster sẽ bị sập đổ làm cho nước biển tràn vào gây ra ngập mỏ, nhấn chìm thiết bị, có thể dẫn đến thảm họa chết người hàng loạt.

Trong khi đó, việc thăm dò địa chất chưa đạt yêu cầu, các giải pháp được đưa ra rất chủ quan, không có cơ sở.

5. Nguy cơ tai biến môi trường từ bãi thải của mỏ

Tổng khối lượng chất thải rắn phải thải ra từ dự án Thạch Khê trên 366 triệu mét khối là rất lớn và rất tập trung. Trong đó, gần 194,97 triệu mét khối đất thải ra trên bờ biển, và 171,89 triệu mét khối phải đổ lấp xuống biển. Khả năng các bãi thải này sẽ gây ra các tai biến môi trường cả trên mặt đất (trôi lấp trên diện rộng) và ở ngoài bờ biển (ô nhiễm) là rất lớn.

6. Dự án không có tính khả thi về kinh tế

Chi phí thoát nước rất lớn: Theo tính toán, lưu lượng nước chảy vào khai trường tới 3.171.804 mét khối/ngày đêm (bao gồm 1.759.555 mét khối nước mặt và 1.412.249 mét khối nước ngầm). Như vậy, tổng lượng nước cần bơm là 1,158 tỉ mét khối/năm. Với chiều cao cột nước bình quân 300 mét, và đơn giá bơm 3.000 đồng/mét khối, riêng chi phí bơm nước hàng năm đã lên tới 3.474 tỉ đồng (hơn 20 đô la Mỹ/tấn quặng nguyên khai). Như vậy, riêng chi phí bơm thải nước mỏ đã chiếm hơn 30% giá bán (giá FOB) của quặng sắt trên thị trường thế giới.

Chi phí bốc đất cao: Trong khai thác phải sử dụng các thiết bị (máy xúc, ô tô tự đổ, xe gạt) có công suất lớn và có tải trọng đè lên nền đất rất lớn. Trong khi đó, bờ mỏ và các tầng bốc đất của mỏ sắt Thạch Khê đều là cát chảy, rất yếu, dễ bị sụt lở, không duy trì được hình dạng, và đều đòi hỏi các giải pháp kỹ thuật rất tốn kém. Các thông số này sẽ dẫn đến chi phí bốc đất (thường chiếm hơn 50% trong giá thành quặng) sẽ rất lớn.

Chi phí khai thác, chế biến quặng sắt cao: Trong giai đoạn 1, chủ đầu tư dự kiến tổ chức tới bốn nhà máy tuyển (nghiền và đập) quặng sắt di động mà không tính đến hiệu quả kinh tế, làm tăng vốn đầu tư, giảm năng suất của thiết bị, tăng chi phí xử lý quặng đuôi, tăng tổn thất sản phẩm trong khâu chế biến. Trong giai đoạn 2, việc xây dựng nhà máy tuyển quặng tập trung là cần thiết, nhưng phải dựa trên các cân bằng sản phẩm và tiêu chuẩn của sản phẩm. Cả hai yếu tố quan trọng này chưa được nghiên cứu.

Tổn thất quặng rất lớn: Theo thiết kế được duyệt, tổn thất quặng lên tới 32% (chưa tính tổn thất trong các khâu khai thác, chế biến, vận chuyển). Với mức tổn thất rất cao như vậy, các thông số về kinh tế của mỏ sẽ giảm đi tương ứng.

Tính khả thi về kinh tế của dự án hầu như không có.

7. Sản phẩm của dự án sẽ không có thị trường tiêu thụ

Formosa - nhà sản xuất thép rất lớn ngay trên địa bàn từ đầu đã khẳng định sử dụng quặng nhập khẩu. Các công ty thép nhỏ trong nước không tiêu thụ hết sản lượng của dự án. Trong khi đó, với việc chi phí khai thác - chế biến phải tăng cao do đặc thù của mỏ, sản phẩm quặng sắt Thạch Khê không thể xuất khẩu vì không có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Việc nhập khẩu quặng sắt vào Việt Nam hiện có giá (CIF) thấp hơn nhiều so với chi phí dự tính của quặng sắt Thạch Khê. Bên cạnh đó, các quốc gia như Trung Quốc, Úc hay Brazil đang đẩy mạnh xuất khẩu quặng sắt.

8. Các sai phạm trong triển khai dự án chưa được làm rõ

Từ năm 2011, dự án đã bị dừng do còn quá nhiều bất cập, sai phạm và có nguy cơ bị thất thoát vốn. Đến nay, các bất cập và sai phạm vẫn chưa được làm rõ nhưng chủ đầu tư vẫn đề nghị cho triển khai tiếp dự án. Đây là việc rất không bình thường.

(*) Nguyên Trưởng ban Chiến lược và KHCN TKV

TS. Nguyễn Thành Sơn